
Khi Internet ra đời, loài người tạo thêm một mạng kết nối chưa từng có trên bề mặt Trái Đất. Dữ liệu có thể đi qua nhiều nút, đổi đường khi một tuyến gặp sự cố, được lưu ở một nơi rồi xuất hiện gần như tức thời ở một nơi khác. Mạng lưới này do con người thiết kế trên một hành tinh vốn đã đầy những hệ kết nối phân tán.
Hệ thần kinh nối vô số tế bào, rễ cây và nấm tạo nên những mạng trao đổi dưới đất, đàn cá và đàn chim phối hợp chuyển động giữa rất nhiều cá thể. Đại dương cùng khí quyển cũng liên kết những vùng cách nhau hàng nghìn kilomet bằng các dòng chảy. Internet thêm một dạng kết nối mới vào thế giới vốn đã đầy những mạng liên hệ như thế.
“Bộ não phụ” bắt đầu từ chính lớp mạng do một loài sinh vật trên hành tinh xây dựng. Internet là phần kết nối; cảm biến, vệ tinh, kho dữ liệu, con người và các hệ thống xử lý mới khiến mạng đó có khả năng quan sát, ghi nhớ và phản hồi.
Internet hoạt động qua vô số thiết bị và điểm kết nối thay vì một trung tâm duy nhất. Một gói dữ liệu có thể đi qua nhiều tuyến trước khi tới nơi nhận; hàng triệu máy chủ cùng lưu trữ và xử lý những phần khác nhau của thế giới số. Quy mô của mạng thay đổi từng ngày khi thiết bị mới, người dùng mới và những nguồn dữ liệu mới tiếp tục tham gia.
Con người cũng trở thành một phần của mạng đó. Mỗi bức ảnh được tải lên, mỗi tìm kiếm, đoạn mã, vị trí hay dòng chữ đều thêm dữ liệu vào một môi trường thông tin chung. Dữ liệu được sao chép, sắp xếp, liên kết và truyền đi với tốc độ mà những mạng giao tiếp trước Internet khó có thể đạt tới.
Cùng lúc, mạng này đã vượt xa phạm vi giao tiếp giữa người với người. Máy móc gửi dữ liệu cho máy móc, cảm biến báo trạng thái môi trường, vệ tinh truyền hình ảnh về mặt đất, thiết bị định vị liên tục tính toán vị trí. Một lớp thông tin mới dần phủ lên những chuyển động vật lý đã tồn tại từ rất lâu trên hành tinh.
Vệ tinh quan sát Trái Đất theo dõi mây, nhiệt độ mặt biển, băng, cháy rừng, độ ẩm đất, khí quyển và nhiều thay đổi khác. Radar thời tiết, trạm đo, phao ngoài đại dương, cảm biến nhiệt và camera bổ sung thêm dữ liệu từ bề mặt. Internet giúp những nguồn quan sát rời rạc truyền dữ liệu về các trung tâm xử lý rồi đưa kết quả tới con người ở những nơi rất xa.
Một vụ cháy rừng có thể được vệ tinh phát hiện từ trên quỹ đạo. Một cơn bão được theo dõi qua biển bằng nhiều loại cảm biến khác nhau. Những thay đổi của rừng, băng hay đường bờ có thể được so sánh qua hàng chục năm ảnh vệ tinh. Loài người ngày nay quan sát trạng thái của toàn hành tinh với độ bao phủ và tốc độ mà các thế hệ trước chưa từng có.
Mạng cảm biến này giống một phần giác quan mới phủ lên cơ thể hành tinh. Trái Đất không tự cầm camera nhìn mình; chính một loài sinh vật sống trên đó đã dựng nên hệ thống quan sát đủ rộng để nhiều biến đổi trên bề mặt được ghi lại gần với thời điểm chúng xảy ra.
Quan sát chỉ là một nửa của quá trình, dữ liệu thu được còn được lưu lại.
Ảnh vệ tinh, bản đồ, hồ sơ khí hậu, dữ liệu địa chất, nghiên cứu khoa học cùng vô số dấu vết của đời sống con người tiếp tục tích tụ trong các kho lưu trữ số. Landsat đã ghi lại bề mặt Trái Đất qua hơn nửa thế kỷ; những bộ dữ liệu dài hạn như vậy cho phép đặt một khu rừng, thành phố hay vùng băng của hôm nay cạnh chính nó nhiều thập kỷ trước.
Internet cũng mở rộng ký ức của con người ra ngoài cơ thể sinh học. Sách, hình ảnh, âm thanh, bản đồ, lịch sử, công thức, dữ liệu khoa học và những cuộc trò chuyện có thể tồn tại lâu sau thời điểm chúng được tạo ra. Một phần ký ức của nền văn minh dần chuyển sang các hệ thống lưu trữ bên ngoài não người.
Đây là phần gần với trí nhớ nhất trong hình dung về “bộ não phụ”. Hành tinh không sở hữu ký ức số theo nghĩa sinh học; những sinh vật trên bề mặt đang xây một kho lưu trữ ngày càng lớn về chính mình và về thế giới chúng đang sống.
Dữ liệu thu vào mạng còn được xử lý rồi quay trở lại tác động lên thế giới vật lý. Dự báo thời tiết thay đổi kế hoạch đi lại và sản xuất. Dữ liệu vệ tinh hỗ trợ theo dõi cháy rừng, hạn hán hay lũ lụt. Bản đồ, hệ thống định vị và thông tin giao thông liên tục thay đổi cách con người di chuyển qua không gian.
Ở phần xã hội, dữ liệu cũng quay trở lại tác động tới chú ý và hành vi thông qua tìm kiếm, xếp hạng, đề xuất và chia sẻ. Những phản ứng mới lại sinh thêm dữ liệu cho vòng xử lý tiếp theo.
AI đưa lớp xử lý này đi xa thêm. Khối lượng dữ liệu quá lớn đối với một cá nhân có thể được tìm kiếm, so sánh, nhận dạng và tổng hợp bằng máy. Cùng một mạng từng chủ yếu dùng để truyền thông tin giờ còn chứa những hệ thống có khả năng xử lý thông tin ở quy mô rất lớn.
“Bộ não phụ” rộng hơn Internet. Nó gồm những điểm quan sát hướng vào hành tinh, một hạ tầng truyền dẫn toàn cầu, các kho ký ức số cùng con người và máy móc đang xử lý dữ liệu chảy qua đó. Thông tin về Trái Đất được thu nhận, lưu lại, biến đổi rồi quay trở lại ảnh hưởng tới cách một loài sinh vật hành động trên chính hành tinh của mình.
Internet xuất hiện rất muộn trong lịch sử Trái Đất. Chỉ trong vài thập kỷ, nó đã nối hàng tỷ con người với một mạng dữ liệu chung và đưa những sự kiện ở một nơi tới trước mắt người ở nơi khác gần như tức thời. Một đám cháy, trận động đất, cuộc chiến hay phát hiện khoa học giờ có thể trở thành trải nghiệm chung của những người cách nhau nửa vòng thế giới.
NASA Earthdata — Earth Science Data Systems
https://www.earthdata.nasa.gov/
NASA Earth Observatory
https://earthobservatory.nasa.gov/
NASA / USGS — Landsat Science
https://landsat.gsfc.nasa.gov/
NOAA NESDIS — National Environmental Satellite, Data, and Information Service
https://www.nesdis.noaa.gov/
Internet Society — A Brief History of the Internet
https://www.internetsociety.org/internet/history-internet/brief-history-internet/