
Gate I bắt đầu ở tín hiệu cảm giác. Gate II nhìn vào khung quan sát. Gate III theo dõi suy nghĩ và cảm xúc ngay trong lúc chúng xuất hiện. Khi đặt nhiều tình huống cạnh nhau, ta còn thấy phản ứng thường quay lại theo những đường quen.
Một quãng im lặng khơi lại nỗi lo quen thuộc. Một lời nhận xét khơi lại cảm giác thiếu giá trị đã có từ trước. Những mối quan hệ rất khác nhau vẫn có thể đưa một người về cùng kiểu phản ứng: cố làm hài lòng, cảnh giác với khả năng bị bỏ lại, kiểm soát hoặc rút lui.
Ký ức, niềm tin và những cách tự bảo vệ đã hình thành qua thời gian tạo nên các đường đi như vậy.
Đó là Mê cung của ý thức.
Trong thần thoại Hy Lạp, Minotaur, sinh vật mang thân người và đầu bò, bị giam trong mê cung trên đảo Crete. Theseus bước vào để đối mặt với nó. Ariadne trao cho chàng một cuộn chỉ để đánh dấu đường đi và lần trở ra sau khi giết Minotaur.
Câu chuyện quy tụ bốn hình ảnh đã tồn tại rất lâu trong văn hóa phương Tây:
Thần thoại cổ không xây dựng bốn nhân vật này như một mô hình tâm lý học. Trong bài này, chúng trở thành bốn vị trí trong bản đồ nội giới.
Daedalus đại diện cho khả năng tạo cấu trúc của tâm trí. Những đường quen bên trong được xây qua kinh nghiệm, ngôn ngữ, quan hệ và các cách thích nghi từng có ích trong một hoàn cảnh nào đó.
Minotaur mang hình dạng của phần trải nghiệm khó hòa vào cấu trúc chung: cơn giận, nỗi sợ, nhu cầu, ký ức hoặc bản năng từng bị giấu đi. Theseus là phần sẵn sàng bước vào những vùng thường bị né tránh. Ariadne giữ mối liên hệ với đường quay về.
Mê cung chứa cả những gì bị giấu và những đường đi đã hình thành quanh chúng.
Trong tiếng Anh, labyrinth và maze đã được sử dụng lẫn nhau trong nhiều giai đoạn. Một quy ước phổ biến hiện nay phân biệt hai cấu trúc bằng số lượng đường đi.
Maze có nhiều nhánh, lựa chọn và ngõ cụt. Người bước vào phải liên tục quyết định hướng nào sẽ đưa mình đi tiếp.
Labyrinth, theo cách phân loại chuyên biệt hiện đại, là cấu trúc một đường liên tục. Con đường uốn quanh tới trung tâm rồi dẫn trở ra, thường theo chính đường đã đi vào. Sự phân biệt này phát triển tương đối muộn trong lịch sử thuật ngữ nên không nên áp ngược như một quy tắc tuyệt đối cho mọi mê cung cổ.
Hai hình dạng tạo ra hai trải nghiệm khác nhau.
Maze gần với trạng thái đứng giữa quá nhiều khả năng: hướng nào cũng có thể sai, mỗi ngã rẽ lại mở thêm một quyết định.
Labyrinth không đặt người đi trước hàng loạt lựa chọn. Khó khăn đến từ việc con đường liên tục vòng qua những vị trí tưởng như đã từng gặp. Có lúc nó tiến rất gần trung tâm rồi lại đưa người đi xa ra ngoài. Khi đứng bên trong, ta khó nhìn được hình dạng tổng thể.
Đời sống nội tâm có cả hai trạng thái. Ta có thể mắc giữa quá nhiều lựa chọn, hoặc liên tục quay lại một chủ đề mà chưa nhận ra đường đi của nó đã thành hình từ lâu.
Hệ thần kinh liên tục học từ kinh nghiệm. Những trải nghiệm lặp lại có thể ảnh hưởng tới điều con người chờ đợi ở môi trường, cách họ nhận biết nguy cơ và phản ứng từng giúp họ vượt qua hoàn cảnh trước đó.
Một đứa trẻ thường xuyên bị trách phạt nặng khi mắc lỗi có thể trở nên nhạy với khả năng bị phê bình. Người từng nhiều lần trải qua sự thiếu nhất quán trong quan hệ có thể chú ý mạnh hơn tới khoảng cách, im lặng hoặc thay đổi trong cách người khác phản hồi. Người sống lâu trong môi trường khó đoán cũng có thể duy trì mức cảnh giác cao khi hoàn cảnh đã ổn định hơn.
Những phản ứng này hình thành trong quan hệ với hoàn cảnh cụ thể. Chúng từng giúp dự đoán nguy cơ, giảm bất ngờ hoặc tạo một mức kiểm soát khi lựa chọn còn hạn chế.
Khó khăn bắt đầu khi đường cũ tiếp tục được sử dụng trong những tình huống mới.
Một tin nhắn trả lời muộn khơi lại nỗi sợ bị bỏ lại. Một lời góp ý được tiếp nhận như sự phủ nhận giá trị bản thân. Một bất đồng nhỏ kích hoạt thôi thúc phải thắng, rút lui hoặc đóng cửa giao tiếp.
Hoàn cảnh hiện tại đưa tới tín hiệu mới, còn kinh nghiệm cũ khiến ta dễ chú ý đến một số tín hiệu hơn và hiểu chúng theo lối quen.
Bức tường trong mê cung nội giới hiếm khi xuất hiện với tấm biển “đây là một niềm tin cũ”. Nó thường nói bằng giọng của điều quá quen:
“Mình chỉ có thể dựa vào chính mình.”
“Nếu để người khác thấy điểm yếu, họ sẽ dùng nó chống lại mình.”
“Mọi chuyện rồi cũng rời khỏi tay mình.”
“Muốn được công nhận, mình phải làm mọi thứ thật tốt.”
Niềm tin tồn tại lâu ngày dễ hòa vào cách một người nhìn thế giới. Khi đã tin một điều, ta có thể chú ý và ghi nhớ những dữ kiện phù hợp với nó nhiều hơn, trong khi những trải nghiệm trái chiều nhận ít trọng lượng hơn.
Người tin rằng không ai đáng tin có thể nhớ rất rõ những lần bị thất hứa nhưng ít để ý tới những người đã duy trì sự hiện diện ổn định. Người luôn chờ đợi việc bị bỏ lại dễ nhận ra khoảng cách sớm hơn những tín hiệu của sự gắn bó.
Qua nhiều lần như vậy, niềm tin tiếp tục tạo ra một thế giới có vẻ nhất quán với chính nó.
Bức tường được xây từ lịch sử nhưng dần trông giống một phần tự nhiên của cảnh vật.
Mê cung còn có những nơi người đi học cách tránh xa.
Tâm lý học dùng khái niệm cơ chế phòng vệ cho những quá trình phần lớn mang tính tự động, giúp con người xử lý xung đột cảm xúc và căng thẳng. Các nghiên cứu hiện đại phân biệt nhiều kiểu phòng vệ với mức độ thích nghi khác nhau; bản thân việc có cơ chế phòng vệ là một phần của hoạt động tâm lý bình thường. Mức độ cứng nhắc, hoàn cảnh sử dụng và ảnh hưởng lên đời sống mới quyết định chúng hữu ích tới đâu.
Ta có thể phủ nhận, hợp lý hóa, chuyển hướng cảm xúc, giữ khoảng cách hoặc kiểm soát rất chặt một tình huống. Trong một hoàn cảnh nhất định, những phản ứng này giúp duy trì khả năng hoạt động.
Một người đang đối diện mất mát có thể tạm gác cảm xúc để hoàn thành những việc cấp thiết. Một đứa trẻ sống trong môi trường khó đoán học cách quan sát sắc mặt người lớn để phát hiện thay đổi sớm hơn.
Vấn đề xuất hiện khi cơ chế từng hữu ích dần trở thành lựa chọn gần như mặc định.
Người quen rút lui biến mất khỏi mọi xung đột dù đối thoại vẫn còn khả thi. Người từng dựa vào sự hoàn hảo để giảm nguy cơ bị phê bình tiếp tục kiểm soát từng chi tiết ngay cả khi cái giá phải trả ngày càng lớn. Người quen xử lý mọi thứ bằng phân tích có thể hiểu cảm xúc rất kỹ trên lý thuyết nhưng hiếm khi tiếp xúc trực tiếp với nó.
Một cánh cửa bị khóa thường có lịch sử. Hiểu lịch sử đó giúp ta biết vì sao nó từng cần tồn tại và liệu hiện tại nó còn phải đóng chặt như trước hay không.
Tâm trí có thể quay lại cùng một nội dung rất nhiều lần. Sự lặp lại đôi lúc tạo thêm thông tin; trong những trường hợp khác, nó giữ suy nghĩ chạy quanh một vòng kín.
Suy nghĩ luẩn quẩn (rumination) thường chỉ quá trình suy nghĩ tiêu cực lặp đi lặp lại quanh đau khổ, nguyên nhân hoặc hậu quả của nó. Nghiên cứu liên hệ rumination với việc tăng suy nghĩ tiêu cực, giảm hiệu quả giải quyết vấn đề và cản trở hành động trong nhiều hoàn cảnh. Các nghiên cứu cũng phân biệt rumination với những dạng tự phản tỉnh có tính xây dựng hơn.
Một người có thể quay lại hàng giờ với cùng những câu:
“Tại sao mình lại để chuyện đó xảy ra?”
“Tại sao mình luôn làm hỏng mọi thứ?”
“Nếu hôm ấy mình nói khác đi thì sao?”
Mỗi vòng làm cảm xúc sống lại, còn lượng thông tin mới thu được rất ít.
Phản tỉnh có thể bắt đầu bằng cùng một trải nghiệm nhưng đi theo hướng khác: nhận ra thêm một yếu tố, sửa lại cách hiểu, xác định điều nằm trong khả năng tác động hoặc tìm ra một việc có thể làm tiếp.
Rumination thường quay về cùng nội dung và cùng kết luận. Phản tỉnh có cơ hội mở thêm dữ kiện hoặc hành động.
Cả hai đều nhìn lại quá khứ; khác biệt xuất hiện ở việc suy nghĩ đang mở rộng bản đồ hay tiếp tục mài sâu một lối cũ.
Các lối cũ cũng xuất hiện trong cách con người phản ứng với sự gần gũi, bất đồng và cảm giác bất an trong mối quan hệ.
Nghiên cứu về gắn bó ở người trưởng thành thường nhắc tới hai xu hướng là gắn bó lo âu (attachment anxiety) và gắn bó né tránh (attachment avoidance). Gắn bó lo âu thường đi cùng việc nhạy hơn với những tín hiệu về khoảng cách hoặc nguy cơ mất kết nối. Gắn bó né tránh thường thể hiện qua xu hướng tạo khoảng cách và ít bộc lộ nhu cầu hơn khi mối quan hệ căng thẳng. Những xu hướng này thay đổi tùy người, đối tác và hoàn cảnh.
Nỗi sợ bị bỏ lại có thể khiến một người nhạy với khoảng cách, tìm kiếm sự trấn an nhiều hơn hoặc phản ứng mạnh với tín hiệu mơ hồ. Người quen né xung đột có thể nhượng bộ lâu hơn mức mình muốn rồi chỉ lên tiếng khi căng thẳng đã tích tụ. Người gắn giá trị bản thân với việc hữu ích dễ tiếp tục nhận về những vai trò trong đó mình luôn phải đáp ứng nhu cầu của người khác.
Mỗi tình huống có người tham dự, hoàn cảnh và trách nhiệm riêng. Hành vi của người khác, những biến cố bên ngoài cùng nhiều yếu tố vượt khỏi khả năng kiểm soát vẫn là phần thực của câu chuyện.
Bản đồ nội giới theo dõi phần phản ứng có thể quan sát ở chính mình: tín hiệu nào dễ kích hoạt cảnh giác, điều gì tạo cảm giác quen thuộc, ranh giới được đặt ở đâu và hành động nào thường đưa mình trở lại lối cũ.
Nhận ra đường quen tạo thêm khả năng lựa chọn khi nó xuất hiện lần nữa.
Trong thần thoại, Theseus tiến vào trung tâm để giết Minotaur. Trong bản đồ nội giới của bài này, Minotaur mang một vai trò biểu tượng khác.
Nó có thể mang hình dạng của cơn giận từng bị cấm bộc lộ, nhu cầu được chăm sóc từng bị coi là yếu đuối, một phần bản năng khó hòa vào hình ảnh về bản thân hoặc ký ức gắn với xấu hổ và sợ hãi.
Những phần như vậy có thể ảnh hưởng tới phản ứng hiện tại ngay cả khi ta hiếm khi gọi tên chúng. Một chủ đề nhất định làm cơn giận tăng rất nhanh. Một nhu cầu liên tục bị phủ nhận. Một loại tình huống khiến người trải nghiệm muốn rút lui trước khi kịp xác định điều gì vừa xảy ra.
“Gặp Minotaur” ở đây là lúc phần từng bị né tránh trở thành đối tượng có thể quan sát và xử lý. Có điều cần được hiểu rõ hơn, có phản ứng cần đặt giới hạn, có ký ức cần được nhìn từ hoàn cảnh hiện tại và có trải nghiệm cần sự hỗ trợ bên ngoài khả năng tự quan sát.
Một phản ứng cũng hiếm khi có duy nhất một nguyên nhân. Tính khí, kinh nghiệm sống, trạng thái cơ thể, môi trường hiện tại, mối quan hệ và thói quen đã hình thành đều có thể góp phần vào cách nó xuất hiện.
Trung tâm của mê cung có thể đem lại một mảnh hiểu biết thay vì câu trả lời cuối cùng.
Theseus có thể đối mặt với Minotaur nhưng chàng còn cần sợi chỉ để tìm đường trở ra. Trong câu chuyện, Ariadne trao cho Theseus phương tiện giữ liên hệ với lối vào. The Met lưu giữ cả hình ảnh Ariadne đưa sợi chỉ cho Theseus trước cửa mê cung.
Trong bản đồ nội giới, sợi chỉ có thể là những thứ giữ người đi liên hệ với hiện tại:
Sợi chỉ không làm mê cung biến mất. Nó giữ phương hướng trong lúc ta chưa nhìn được toàn bộ cấu trúc.
Việc đi vào nội tâm cũng có giới hạn. Khi một ký ức hoặc cảm xúc tạo ra mức choáng ngợp quá lớn, tiếp tục ép mình đào sâu có thể khiến khả năng quan sát giảm đi. Quay về hiện tại, chuyển chú ý sang môi trường hoặc dừng việc đào sâu là những lựa chọn hợp lý.
Biết lúc nào nên dừng cũng là một phần của việc giữ phương hướng.
Đường quay về sau mỗi lần khám phá tiếp tục đi qua đời sống thường ngày. Cùng một quãng im lặng xuất hiện, cơ thể vẫn có thể phản ứng và câu chuyện cũ vẫn có thể bật lên. Lần này, người đi có thêm cơ hội nhận ra nó sớm hơn và thử một phản hồi khác.
Mê cung thay đổi qua chính những lần quay lại như vậy.
Mê cung cũng từng được dùng để nói về những nơi lý trí gặp khó khăn với chính các khái niệm của mình.
Leibniz gọi vấn đề về tự do của con người và cấu trúc của continuum là hai “mê cung nổi tiếng” nơi lý trí thường lạc hướng. Với ông, mê cung không phải một hình ảnh tâm lý về cảm xúc mà là cách mô tả những bài toán triết học có khả năng kéo tư duy vào các khó khăn nối tiếp nhau.
Một lời giải có thể mở thêm một vấn đề. Một định nghĩa làm sáng một phần rồi tạo ra câu hỏi mới ở phần khác. Càng đi sâu vào cấu trúc lập luận, người suy nghĩ càng phải kiểm tra chính những giả định đã đưa mình tới đó.
Hình ảnh mê cung cũng phù hợp với giới hạn của tư duy: suy nghĩ có khả năng mở rộng hiểu biết và đồng thời tự tạo ra những đường vòng.
Có lúc việc tiếp tục phân tích đem lại dữ kiện mới. Có lúc ta cần quay về điều có thể quan sát, hành động trên thông tin đang có hoặc chấp nhận rằng một phần câu hỏi vẫn còn mở.
Một chủ đề cũ có thể quay lại rất nhiều lần.
Nỗi sợ từng xuất hiện trong một mối quan hệ lại bật lên ở một mối quan hệ khác. Phản ứng tưởng đã qua trở lại khi cơ thể mệt hoặc hoàn cảnh bất ổn. Sự quay lại rất dễ tạo cảm giác rằng mọi thay đổi trước đó đã biến mất.
Hai lần gặp cùng một chủ đề vẫn có thể khác nhau.
Lần đầu, người đi chỉ cảm thấy đau. Một lần khác, họ nhận ra điều vừa kích hoạt phản ứng. Sau đó, họ có thể nhận ra thôi thúc trước khi hành động. Đến một thời điểm khác nữa, cảm xúc cũ vẫn xuất hiện nhưng lựa chọn đã thay đổi.
Chuyển hóa có thể diễn ra qua những dịch chuyển nhỏ như vậy. Nội dung quen thuộc quay lại trong một mối quan hệ mới giữa người trải nghiệm và chính nội dung đó.
Vẫn là chủ đề cũ, nhưng mỗi lần trở lại có thể bắt đầu từ một vị trí khác.
Vòng lặp khi ấy bắt đầu mang hình xoắn ốc.
Mê cung chuyển thành xoắn ốc.