
TWOR từng đi qua Eye of Horus dưới ánh sáng của sự tỉnh thức. Khi đó, con mắt hướng vào nội giới, gắn với khả năng nhìn lại những cấu trúc nhận thức cũ sau một giai đoạn biến đổi.
Gate II quay lại biểu tượng này từ một hướng khác. Lần này, bài đặt Eye of Horus cạnh lịch sử biểu tượng, vật lý lượng tử, khoa học tri giác và triết học về người quan sát. Điểm chung giữa các vùng rất khác nhau này là câu hỏi về điều kiện của hành động nhìn: ta tiếp nhận điều gì, công cụ nào thu nhận thông tin và phần nào đã bị loại khỏi khung ngay từ đầu.
Trong thần thoại gắn với Wedjat, mắt của Horus bị Seth làm tổn thương hoặc lấy mất rồi được Thoth phục hồi. Tên wedjat mang nghĩa gần với “the one that is sound again” — thứ đã lành lại, trở về trạng thái nguyên vẹn. Biểu tượng này xuất hiện rộng rãi trên bùa hộ mệnh và đồ mai táng, gắn với bảo hộ, chữa lành và tái sinh.
Lịch sử của Wedjat khiến con mắt mang nhiều hơn chức năng nhìn. Nó đi qua tổn thương rồi mới trở lại trạng thái toàn vẹn.
TWOR lấy chuyển động tổn thương – phục hồi đó làm điểm xuất phát cho Gate II. Con mắt sau biến cố trở thành hình ảnh của một cái nhìn từng gặp giới hạn rồi được tổ chức lại. Gate II chuyển trọng tâm từ thứ đang được nhìn sang điều kiện tạo nên cái nhìn.
Từ “Quantum” trong tên Gate được mượn từ vật lý hiện đại. Wedjat xuất hiện hàng nghìn năm trước cơ học lượng tử và có lịch sử biểu tượng riêng. Gate II nối hai vùng bằng một câu hỏi chung: điều kiện quan sát ảnh hưởng tới thông tin thu được ra sao?
Trong cơ học lượng tử, cách bố trí thí nghiệm liên quan trực tiếp tới loại thông tin có thể thu được. Hệ được nghiên cứu, thiết bị đo và tương tác giữa chúng đều phải được tính tới khi mô tả kết quả.
Mối quan hệ giữa công cụ và thứ có thể ghi nhận cũng thấy rõ trong những cách quan sát quen thuộc hơn. Kính hiển vi mở rộng một miền kích thước, kính thiên văn đưa những nguồn sáng rất xa vào tầm quan sát, còn máy dò hồng ngoại ghi nhận những bước sóng mắt người không thấy. Mỗi công cụ có độ nhạy, độ phân giải và phạm vi riêng.
The Quantum Eye tập trung vào chính giới hạn của khung quan sát.
Thí nghiệm hai khe thường bị rút gọn thành câu: hạt thay đổi hành vi khi “bị quan sát”. Cách kể này dễ khiến người đọc tưởng rằng ý thức con người là thành phần bắt buộc của quá trình quan sát.
Trong thí nghiệm hai khe, các photon, electron hoặc những đối tượng lượng tử khác có thể được gửi lần lượt về phía hai khe. Từng lần phát hiện tạo ra một điểm riêng trên màn. Khi tích lũy đủ nhiều sự kiện và không có thông tin phân biệt đường đi, phân bố tổng thể có thể hình thành mô hình giao thoa.
Khi hệ thống được bố trí để thông tin về đường đi trở nên khả dụng, độ rõ của giao thoa suy giảm hoặc biến mất. Sự thay đổi gắn với tương tác đo lường, thông tin đường đi và quá trình mất kết hợp lượng tử (decoherence). NIST mô tả trực tiếp mối liên hệ giữa lượng thông tin mà thiết bị thu được và sự suy giảm giao thoa trong mô hình hai khe.
Thiết bị có thể tự động ghi lại thông tin, và môi trường xung quanh cũng có thể tương tác với hệ; kết quả không phụ thuộc vào việc có người đứng đó quan sát trực tiếp.
Việc mô tả quá trình đo bằng sự “sụp đổ hàm sóng”, trạng thái tương đối hay một cách khác còn phụ thuộc vào cách hiểu cơ học lượng tử. Nhiều cách tiếp cận có thể dự đoán cùng kết quả thực nghiệm trong khi mô tả bản chất của quá trình theo những hướng rất khác nhau. Copenhagen và Everettian, chẳng hạn, thuộc những truyền thống giải thích khác nhau về trạng thái lượng tử và vấn đề đo lường.
Phần thực nghiệm chắc hơn là mối liên hệ giữa cách bố trí thí nghiệm, thông tin có thể thu được và phân bố kết quả.
Mỗi thiết bị đo có thiết kế, độ nhạy, độ phân giải và giới hạn hoạt động. Việc lựa chọn công cụ đồng thời xác định thuộc tính nào có thể đi vào dữ liệu thu được.
Một máy ảnh phơi sáng dài ghi lại chuyển động khác với máy ảnh dùng tốc độ màn trập rất cao. Kính thiên văn hồng ngoại phát hiện những cấu trúc mà mắt người bỏ lỡ. Kính hiển vi mở ra các chi tiết không thể quan sát bằng mắt thường.
Dữ liệu vẫn chịu ràng buộc của thế giới vật lý và phương pháp đo. Khả năng lặp lại, hiệu chuẩn và đối chiếu giúp kiểm tra độ tin cậy của kết quả. Muốn hiểu dữ liệu nói lên điều gì, ta cần biết công cụ nào đã thu nhận nó và quá trình ấy diễn ra trong điều kiện nào.
Đây cũng là một vấn đề của nhận thức luận: ta biết điều mình biết bằng cách nào?
Gate II chuyển trọng tâm sang sự chú ý, nơi một phần trong dòng thông tin liên tục được ưu tiên và trở nên nổi bật hơn trong trải nghiệm có ý thức.
Ta hiếm khi nhận biết mọi thứ trong căn phòng cùng một lúc. Ánh nhìn dừng ở vài vật thể, tai có thể bám vào một giọng nói giữa nhiều âm thanh, còn mục tiêu hiện tại định hướng thứ ta tìm kiếm.
Ba người bước vào cùng một căn phòng có thể lập tức hướng sự chú ý tới ba thứ khác nhau: lối thoát, ánh sáng từ cửa sổ hoặc sắc mặt của những người đang ngồi bên trong. Căn phòng vẫn là cùng một môi trường vật lý; điều nổi bật với từng người đã khác.
Kỳ vọng, ký ức và kinh nghiệm cũ tiếp tục định hướng sự chú ý. Người đang cảnh giác với nguy hiểm dễ ưu tiên tín hiệu liên quan tới đe dọa. Người mang nỗi sợ bị từ chối có thể đặc biệt để ý tới một khoảng lặng. Những niềm tin đã tồn tại lâu cũng ảnh hưởng tới thông tin ta tìm kiếm, ghi nhớ và đặt trọng lượng.
Sự chú ý đặt một phần cảnh tượng vào vùng nổi bật, trong khi những phần khác lùi về hậu cảnh.
Dơi sử dụng tiếng vang để định hướng. Nhiều loài chim có hệ thị giác nhạy với vùng tử ngoại mà mắt người không tiếp nhận. Một số loài còn sử dụng thông tin từ từ trường Trái Đất để định hướng, dù cơ chế sinh học cụ thể của khả năng cảm nhận từ trường vẫn còn nhiều điểm đang được nghiên cứu.
Mỗi loài tiếp xúc với môi trường qua một bộ khả năng cảm giác riêng. Con người cũng vậy: ta nhìn một phần phổ điện từ, nghe trong một khoảng tần số và cảm nhận thế giới qua cấu trúc sinh học của Homo sapiens.
Thiết bị khoa học mở rộng phạm vi đó. Sóng vô tuyến, tia X, hồng ngoại, trường từ hay những tín hiệu rất nhỏ có thể được máy móc phát hiện rồi chuyển thành con số, biểu đồ, hình ảnh hoặc âm thanh để con người đọc và phân tích.
Phần thế giới đi vào tri thức của ta luôn qua một hệ cảm giác, công cụ đo hoặc mô hình biểu diễn. Nhận ra giới hạn của từng khung giúp khoa học tiếp tục chế tạo công cụ tốt hơn, so sánh nhiều nguồn dữ liệu và mở rộng phần có thể quan sát.
Một liên tưởng hiện đại khác đặt Eye of Horus lên lát cắt dọc giữa của não. Bài báo năm 2019 của ReFaey và cộng sự thử chồng biểu tượng này lên hình giải phẫu và đề xuất những tương đồng với thể chai, đồi thị, đường khứu giác, thân não cùng một số cấu trúc cảm giác khác.
Ngay trong bài báo, các tác giả mô tả một phần đề xuất bằng ngôn ngữ giả thuyết và suy đoán. Họ cũng ghi nhận chưa tìm thấy tài liệu gốc xác lập nguồn gốc thần kinh học của Eye of Horus.
TWOR giữ mối liên hệ này ở mức một liên tưởng thị giác hiện đại. Hình ảnh con mắt, giác quan và bộ não có thể được đặt cạnh nhau mà không biến sự tương đồng hình dạng thành bằng chứng rằng người Ai Cập đã mã hóa giải phẫu thần kinh vào Wedjat.
Biểu tượng vẫn giữ được giá trị dù giả thuyết lịch sử chưa đứng vững.
Tuyến tùng là một cơ quan thần kinh – nội tiết nhỏ gần đường giữa của não. Chức năng được xác lập rõ nhất của nó liên quan tới sản xuất melatonin và truyền tải thông tin về chu kỳ sáng – tối vào hệ thống nhịp sinh học. Ánh sáng từ võng mạc ảnh hưởng tới đồng hồ sinh học trung tâm ở nhân trên giao thoa rồi, qua một chuỗi đường dẫn thần kinh, điều chỉnh nhịp tiết melatonin của tuyến tùng.
Lịch sử triết học phương Tây từng gắn tuyến tùng với câu hỏi về tâm trí và linh hồn; Descartes nổi tiếng với việc đặt nó vào một vai trò đặc biệt trong quan hệ giữa tâm trí và cơ thể. Các dòng huyền học hiện đại tiếp tục nối tuyến tùng với “con mắt thứ ba”, trực giác, giấc mơ và những trạng thái ý thức khác. Nguồn Endotext của NCBI cũng ghi lại liên hệ lịch sử với Descartes, trong khi phần sinh lý tập trung vào melatonin và nhịp sáng – tối.
Sinh học mô tả tuyến tùng bằng hormone, ánh sáng và nhịp sinh học. Huyền học sử dụng nó như biểu tượng của cái nhìn hướng vào bên trong. Mối liên hệ với sáng – tối, thức – ngủ khiến tuyến tùng dễ bước vào những câu chuyện về ranh giới giữa ngoại giới và nội giới.
Trong Gate II, hai miền giữ nguyên tên gọi và phạm vi của mình.
The Quantum Eye đặt bốn hướng quanh cùng một câu hỏi: ta biết điều mình biết bằng cách nào?
Bốn hướng dùng những phương pháp và tiêu chuẩn bằng chứng khác nhau. Đặt chúng cạnh nhau giúp phân biệt đâu là dữ liệu lịch sử, đâu là kết quả thực nghiệm, đâu là mô hình về nhận thức và đâu là ý nghĩa biểu tượng.
The Quantum Eye giữ cuộc đối thoại ở đúng ranh giới đó.
Wedjat bắt đầu bằng câu chuyện một con mắt bị tổn thương rồi được phục hồi. Gate II mượn chuyển động này để nhìn lại chính điều kiện của hành động quan sát.
Ta nhìn bằng giác quan của một loài, qua lịch sử của một cá nhân và trong trạng thái của một cơ thể cụ thể. Thiết bị có giới hạn đo, sự chú ý có phạm vi ưu tiên, ký ức và kỳ vọng ảnh hưởng tới thứ nổi bật trước mắt.
Nhận ra những giới hạn này cho phép ta kiểm tra phương pháp, đổi góc quan sát, đối chiếu dữ kiện và tìm thêm thông tin ở những vùng dễ bị bỏ sót.