Gate I | The senses

Khi thế giới đi vào ý thức

Ta mở mắt và thấy căn phòng. Một tiếng động vang lên phía sau. Mùi cà phê đưa ký ức trở về một buổi sáng cũ. Mọi thứ diễn ra liền mạch đến mức ta dễ có cảm giác thế giới đang đi thẳng vào tâm trí dưới dạng nguyên vẹn.

Giữa sự vật ngoài kia và trải nghiệm bên trong là một chuỗi chuyển đổi phức tạp. Ánh sáng, dao động, phân tử hóa học, nhiệt độ và áp lực kích hoạt những hệ cảm giác khác nhau rồi trở thành tín hiệu thần kinh. Não kết hợp thông tin cảm giác với ký ức, trạng thái cơ thể, bối cảnh và kinh nghiệm đã có để tạo nên trải nghiệm của ta về thế giới.

Tín hiệu bắt đầu từ môi trường, còn tri giác tiếp tục được định hình trong cơ thể và tâm trí của người đang trải nghiệm.

Trước hình ảnh là ánh sáng

Cảnh vật không đi vào mắt như một hình ảnh đã hoàn chỉnh.

Ánh sáng phản xạ từ bề mặt sự vật, đi qua giác mạc và thủy tinh thể rồi hội tụ trên võng mạc. Các tế bào cảm quang phản ứng với ánh sáng và bắt đầu quá trình chuyển đổi thành tín hiệu thần kinh. Thông tin tiếp tục được xử lý qua võng mạc và nhiều vùng của hệ thần kinh trước khi góp phần tạo nên cảnh tượng có ý nghĩa trong trải nghiệm có ý thức.

Âm thanh đi theo một con đường khác. Dao động trong không khí làm rung màng nhĩ, truyền qua các xương nhỏ của tai giữa rồi tác động tới dịch và tế bào lông trong ốc tai. Chuyển động cơ học được chuyển thành tín hiệu thần kinh, sau đó hệ thính giác xử lý chúng thành những trải nghiệm như lời nói, tiếng nhạc, tiếng bước chân hay âm thanh của một vật vừa rơi.

Mùi và vị bắt đầu từ các phân tử hóa học. Cảm giác thân thể dựa trên nhiều loại thụ thể đáp ứng với chạm, áp lực, rung, nhiệt độ và những kích thích có khả năng gây tổn thương. Mỗi hệ dùng một cơ chế riêng, nhưng đều bắt đầu bằng việc biến kích thích vật lý hoặc hóa học thành tín hiệu mà hệ thần kinh có thể xử lý.

Trải nghiệm có ý thức vì thế xuất hiện dưới dạng màu sắc, âm thanh, mùi hương, vị giác và cảm giác thân thể, thay vì dưới dạng bước sóng, dao động không khí hay phản ứng hóa học.

Cơ thể có nhiều cánh cửa hơn năm giác quan

Mô hình năm giác quan đã quen thuộc đến mức dễ trở thành bản mô tả mặc định về cách con người tiếp xúc với thế giới. Thần kinh học còn phân biệt nhiều hệ cảm giác khác, và cách đếm chính xác phụ thuộc vào tiêu chí phân loại.

Bên cạnh thị giác, thính giác, khứu giác, vị giác và xúc giác, trải nghiệm còn có sự góp mặt của:

  • Cảm giác bản thể, giúp ta biết vị trí và chuyển động của tay chân mà không cần nhìn.
  • Hệ tiền đình, liên quan tới thăng bằng và nhận biết chuyển động của đầu trong không gian.
  • Cảm nhận nội thân, tiếp nhận và tổ chức những tín hiệu từ bên trong cơ thể như nhịp tim, hơi thở, đói, khát, buồn nôn hoặc căng tức.
  • Cảm giác đau, liên quan tới việc phát hiện những kích thích có khả năng gây tổn thương và thúc đẩy phản ứng bảo vệ.
  • Cảm nhận nhiệt độ, giúp cơ thể nhận biết nóng, lạnh và những thay đổi nhiệt trên da.


Ngay cả thứ thường được gọi chung là “xúc giác” cũng gồm nhiều dạng thông tin. Chạm nhẹ, rung, áp lực, ngứa, nhiệt độ và đau dựa trên những loại thụ thể và đường dẫn thần kinh khác nhau.

Trạng thái của toàn cơ thể cũng ảnh hưởng tới trải nghiệm. Tư thế, nhịp tim, hơi thở, mức độ căng thẳng và trạng thái sinh lý có thể tác động tới sự chú ý, cảm xúc và cách một tình huống được đánh giá.

Một hành lang có thể hoàn toàn bình thường khi người bước đi đang thư giãn. Trong trạng thái hoảng sợ, vùng tối, một tiếng động nhỏ hay chi tiết mơ hồ trong cùng hành lang dễ thu hút sự chú ý hơn. Cảnh vật vẫn vậy, còn trạng thái của người nhìn đã thay đổi những gì nổi bật trong cảnh vật đó.

Não tổ chức thế giới

Não liên tục chọn lọc và tổ chức thông tin cảm giác.

Thông tin cảm giác luôn có giới hạn. Mắt người chỉ tiếp nhận một phần nhỏ của phổ điện từ, tai hoạt động trong một khoảng tần số nhất định và độ nhạy với mùi thay đổi rất lớn tùy loại phân tử. Mỗi loài lại tiếp cận môi trường qua một bộ khả năng cảm giác khác nhau.

Để xử lý lượng thông tin liên tục đi vào, hệ thần kinh chọn lọc, so sánh và sử dụng ngữ cảnh cùng kinh nghiệm đã có. Ta có thể nhận ra một khuôn mặt từ vài đường nét. Một âm bị thiếu trong câu nói vẫn có thể được hiểu nhờ phần còn lại của câu, còn một vật bị che khuất một phần thường vẫn được cảm nhận như một vật thể liên tục.

Ảo giác thị giác làm quá trình tổ chức này dễ nhìn thấy hơn. Hai vùng có cùng giá trị màu có thể trông khác nhau khi đặt trong những bối cảnh sáng tối khác nhau. Một hình vẽ có thể luân phiên hiện thành hai vật thể tùy cách các đường nét được nhóm lại. Một số bố cục tĩnh tạo ra cảm giác chuyển động.

Ngữ cảnh và kinh nghiệm giúp hệ thần kinh xử lý dữ liệu chưa đầy đủ. Một số khung lý thuyết hiện nay, nổi bật là predictive processing, mô tả tri giác như quá trình não liên tục đối chiếu tín hiệu mới với kỳ vọng rồi cập nhật khi hai phía không khớp. Đây là một hướng nghiên cứu có ảnh hưởng lớn, còn cơ chế cụ thể và phạm vi giải thích của nó vẫn đang được kiểm nghiệm.

Khả năng tổ chức nhanh giúp con người định hướng trong môi trường, đồng thời cũng tạo điều kiện cho điểm mù xuất hiện. Những gì phù hợp với kỳ vọng dễ được nhận ra hơn trong một số hoàn cảnh, còn chi tiết nằm ngoài khuôn quen thuộc có thể bị bỏ sót. Kinh nghiệm cũ vì vậy có thể ảnh hưởng tới cách thông tin mới được chú ý và hiểu.

Ký ức đi cùng tri giác

Mùi hương là một ví dụ quen thuộc về cách tri giác gắn với ký ức.

Một mùi thức ăn có thể đưa người này về căn bếp thời thơ ấu. Với người khác, cùng mùi đó lại gắn với bệnh viện, một chuyến đi hoặc một người đã mất. Kích thích hiện tại giống nhau nhưng trải nghiệm cảm xúc có thể khác vì lịch sử của người tiếp nhận khác nhau.

Âm nhạc cũng vậy. Một giai điệu có thể mang cảm giác thư giãn với người chưa gắn nó với kỷ niệm đặc biệt, nhưng lại khơi dậy đau buồn ở người từng nghe nó trong một cuộc chia tay.

Những liên kết như vậy hình thành qua học tập và trải nghiệm. Não vừa nhận dạng thông tin cảm giác vừa kích hoạt những mạng liên hệ đã được xây dựng từ trước, nơi ký ức và cảm xúc cùng ảnh hưởng tới trải nghiệm hiện tại.

Ta nhìn một khuôn mặt mới bằng kinh nghiệm tích lũy từ những khuôn mặt đã gặp. Một ánh mắt có thể được đọc qua lịch sử của những lần được tin tưởng, bị phán xét hoặc bị tổn thương. Tri giác kết hợp tín hiệu của khoảnh khắc hiện tại với những gì người nhìn đã mang theo từ trước.

Cảm xúc thay đổi tỷ lệ của sự vật

Cảm xúc ảnh hưởng tới cách ta chú ý và đánh giá sự việc ngay trong lúc trải nghiệm diễn ra.

Khi mức cảnh giác tăng cao, sự chú ý có thể thu hẹp và những tín hiệu liên quan tới nguy cơ dễ chiếm ưu tiên hơn. Nghiên cứu về lo âu cũng ghi nhận xu hướng chú ý tới thông tin đe dọa, dù mức độ và hình thức thay đổi tùy người, hoàn cảnh và cách đo.

Trong trạng thái lo âu, một khoảng lặng có thể dễ bị đọc thành sự xa cách. Khi đang giận, một câu nói trung tính có thể nghe mang tính khiêu khích hơn. Lúc kiệt sức, một yêu cầu nhỏ cũng có khả năng tạo cảm giác nặng nề hơn bình thường.

Cùng một sự kiện có thể mang ý nghĩa khác nhau tùy trạng thái của cơ thể và tâm trí tại thời điểm trải nghiệm. Một khoảng dừng cho phép ta kiểm tra những điều kiện đang ảnh hưởng tới cách hiểu đầu tiên: cơ thể đang căng hay thư giãn, ký ức nào vừa được đánh thức, cảm xúc nào đang thu hẹp sự chú ý.

Nhận ra những yếu tố này giúp phân biệt rõ hơn giữa tín hiệu, phản ứng và kết luận.

Thế giới vật lý và thế giới được cảm nhận

Triết học từ lâu đã phân biệt sự vật với kinh nghiệm của ta về sự vật.

Ta có thể đo bước sóng ánh sáng, còn “màu đỏ” là một phẩm chất tri giác do hệ thị giác tạo nên trong những điều kiện cụ thể. Ta có thể đo tần số âm thanh, còn trải nghiệm về giai điệu xuất hiện khi hệ thính giác tổ chức các dao động thành một chuỗi có nghĩa. Nhiệt độ có thể được ghi lại bằng con số, trong khi cảm giác dễ chịu, lạnh buốt hay bỏng rát còn phụ thuộc vào cơ thể tiếp xúc với nó.

Thế giới vật lý đặt ra điều kiện và giới hạn. Cơ thể tiếp nhận một phần thông tin từ thế giới đó, hệ thần kinh tiếp tục tổ chức phần thông tin này thành trải nghiệm. Hai miền gắn chặt với nhau nhưng không hoàn toàn đồng nhất.

Ta luôn sống trong quan hệ với thực tại bên ngoài và tiếp cận nó qua cấu trúc cảm giác, thần kinh cùng kinh nghiệm của chính mình.

Tri giác có giới hạn, nên kiểm chứng, đo lường, đối chiếu và tiếp nhận nhiều góc nhìn vẫn rất cần thiết. Con người có thể hiểu sai, bỏ sót dữ kiện hoặc bị thiên kiến chi phối; nhận thức về giới hạn của tri giác cũng là một phần lý do chúng ta cần những phương pháp để kiểm tra điều mình nghĩ rằng mình đã thấy.

Giác quan trong bản đồ huyền học

Nhiều truyền thống huyền học và triết học tinh thần mô tả giác quan như những cánh cửa nối ý thức nhập thể với thế giới vật chất. Cơ thể tạo nên một phạm vi trải nghiệm có hình dạng, thời gian và giới hạn.

Khoa học thần kinh nghiên cứu cơ chế cảm giác, hệ thần kinh và cách thông tin được xử lý. Ý niệm về linh hồn hay ý thức nhập thể thuộc phạm vi triết học và huyền học. Bản đồ này đặt cả hai cạnh nhau và giữ rõ ranh giới giữa cơ chế thần kinh với ý niệm huyền học.

Huyền học thường gắn “thanh lọc tri giác” với việc nhận ra ảnh hưởng của sợ hãi, định kiến, chấp trước hoặc phản ứng tự động lên cách ta nhìn sự việc. Ở cấp độ thực hành, ý niệm này có thể được đưa về những thao tác rất gần:

  • Nhận ra sự khác biệt giữa dữ kiện và suy luận.
  • Quan sát trạng thái cơ thể trước khi đưa ra kết luận.
  • Kiểm tra xem ký ức cũ có đang nhuộm màu hiện tại hay không.
  • Lắng nghe nhiều góc nhìn khi kinh nghiệm cá nhân trở nên quá chắc chắn.
  • Chú ý tới những chi tiết thường bị loại khỏi vùng nhận biết.


Nhận ra những bộ lọc này giúp người nhìn hiểu cách tri giác của mình đang vận hành.

Cổng đầu tiên

Gate I đặt nền cho các phần sau bằng một điểm cơ bản: trải nghiệm đi qua nhiều bước trước khi xuất hiện trong ý thức dưới dạng một thế giới có màu sắc, âm thanh và ý nghĩa. Cơ thể tiếp nhận tín hiệu, hệ thần kinh tổ chức chúng cùng với ký ức, cảm xúc và trạng thái hiện tại.

Quá trình này giúp con người định hướng nhanh trong môi trường, đồng thời khiến một số thông tin nổi bật hơn và một số khác dễ bị bỏ qua. Nhìn thấy cách tri giác hình thành cũng đưa sự chú ý vào trung tâm của bản đồ.

Điều gì bước vào vùng nhận biết? Điều gì lùi ra phía sau? Khung quan sát ảnh hưởng tới trải nghiệm ra sao?

Đó là điểm Gate II bắt đầu.



Ghi chú nguồn


Quay lại