Ai cũng từng có lúc nghĩ: “Nếu ngày đó mình chọn khác đi thì bây giờ sẽ thế nào?”
Có thể bạn đã sống ở một thành phố khác, làm một công việc khác, gặp những người khác. Chỉ một điểm rẽ cũng đủ kéo theo cả chuỗi thay đổi phía sau.
Từ những câu hỏi kiểu ấy, ta bước vào vùng của dòng thời gian thay thế, vũ trụ song song và đa vũ trụ. Ba khái niệm thường bị gom chung dù chúng không nói về cùng một thứ.
Trong bài này, “đa chiều thực tại” được dùng theo nghĩa rộng cho những cách hình dung rằng thực tại ta đang sống chưa chắc là phiên bản duy nhất.
Dòng thời gian thay thế (alternate timeline) là một diễn biến rẽ sang hướng khác.
Ở dòng này, bạn chọn A. Ở dòng khác, câu chuyện tiếp tục từ lựa chọn B.
Vũ trụ song song (parallel universe) rộng hơn thế. Một vũ trụ khác có thể gần giống thế giới của chúng ta, cũng có thể khác ngay từ quá khứ, điều kiện khởi đầu hoặc cấu trúc vật lý.
Đa vũ trụ (multiverse) là tên gọi chung cho ý tưởng có nhiều vũ trụ. Tùy mô hình, chúng có thể phân nhánh từ cùng một trạng thái ban đầu hoặc tồn tại độc lập với những điều kiện rất khác nhau.
Hình ảnh cái cây nhiều cành rất dễ dùng để minh họa những thực tại rẽ nhánh. Nhưng một số mô hình multiverse không phân nhánh từ cùng một điểm xuất phát. Chúng có thể gồm nhiều vũ trụ tồn tại độc lập, khác nhau ngay từ điều kiện ban đầu, quá trình phát triển hoặc cấu trúc vật lý.
Năm 1957, Hugh Everett III đưa ra cách diễn giải về sau được gọi là Many-Worlds Interpretation.
Nói thật giản lược, các kết quả lượng tử khác nhau tiếp tục xuất hiện trong những nhánh khác nhau của trạng thái vũ trụ.
Ví dụ “ở dòng này tôi làm bác sĩ, ở dòng khác tôi làm họa sĩ” giúp hình dung rất nhanh về hai cuộc đời rẽ sang hai hướng khác nhau. Nhưng ví dụ ấy gần với cách ta tưởng tượng về dòng thời gian thay thế hơn.
Many-Worlds nói về sự phân nhánh của các kết quả lượng tử. Quyết định nghề nghiệp của một người không phải điểm khởi đầu khiến vũ trụ tự tách đôi.
Cách kể “mỗi lựa chọn tạo ra một timeline mới” là phiên bản đã được mở rộng từ ý tưởng phân nhánh sang đời sống thường ngày.
Não người rất thích quay lại những điểm rẽ.
“Nếu hôm đó mình không nghỉ việc...”
“Nếu mình nhận lời...”
“Nếu mình không gặp người đó...”
Counterfactual thinking là cách tâm trí dựng lại một tình huống đã xảy ra rồi thay đổi một chi tiết để hình dung kết quả khác.
Ta vẫn sống trong cuộc đời hiện tại, nhưng một phiên bản “đáng lẽ đã xảy ra” có thể hiện lên rất rõ. Nó có công việc khác, những mối quan hệ khác, thậm chí một tính cách khác do những trải nghiệm sau đó đã đổi hướng.
Ở góc nhìn này, hình ảnh timeline giúp ta nhìn vào lựa chọn, tiếc nuối và những khả năng từng mở ra trước mình.
Các cách diễn giải New Age về timeline shifting, reality shifting và quantum jumping đi thêm một bước: nhiều phiên bản thực tại đã tồn tại sẵn, còn ý thức có thể chuyển trải nghiệm sang một phiên bản khác.
Sự thay đổi thường được gắn với niềm tin, trạng thái nội tâm, cảm xúc hoặc “tần số”.
Một số dòng còn liên hệ các khả năng ấy với Akashic Records hay một trường thông tin chứa nhiều kịch bản của quá khứ, hiện tại và tương lai.
Quantum jump trong vật lý và quantum jumping trong New Age dùng chung một từ, nhưng nghĩa của chúng khác nhau. Trong vật lý, quantum jump chỉ sự chuyển đổi giữa các trạng thái lượng tử. Trong cách dùng huyền học, nó trở thành hình ảnh cho sự chuyển đổi giữa các phiên bản thực tại.
Mandela Effect xảy ra khi nhiều người cùng nhớ một chi tiết theo cách khác với dữ liệu hiện có.
Tên thương hiệu, logo, câu thoại trong phim hoặc một sự kiện nổi tiếng đều có thể trở thành ví dụ.
Trong các cách giải thích về nhiều thực tại, Mandela Effect thường được xem như ký ức còn sót lại từ một timeline khác hoặc dấu vết của hai phiên bản thực tại từng giao nhau.
Tâm lý học đọc hiện tượng này theo hướng khác: ký ức được tái dựng mỗi lần ta nhớ lại, thông tin sai có thể được củng cố qua thời gian và con người dễ ảnh hưởng lẫn nhau khi cùng kể về một sự kiện.
Mandela Effect vì thế trở thành một ví dụ rất rõ cho hai cách đọc: một bên nhìn vào cách trí nhớ hoạt động, bên kia nhìn thấy dấu vết của một thực tại khác.
Giả sử ở một dòng thực tại khác, một phiên bản của bạn đã chọn con đường khác.
Trước điểm rẽ, hai phiên bản có cùng một quá khứ. Sau đó, mỗi phiên bản tiếp tục sống với ký ức, quan hệ và hệ quả riêng trong dòng thực tại của mình.
Một phiên bản ở lại thành phố cũ. Phiên bản kia chuyển đi.
Một phiên bản kết hôn. Phiên bản kia không gặp người ấy.
Sau mười năm, cả hai còn là “cùng một người” tới mức nào?
Thứ nối họ lại có thể là quá khứ chung. Với các cách diễn giải huyền học, đó còn có thể là linh hồn hoặc một bản thể rộng hơn chứa nhiều phiên bản.
Trong Many-Worlds, mỗi phiên bản tiếp tục tồn tại trong nhánh của mình. Ý tưởng về một “cái tôi” duy nhất chạy qua lại giữa các nhánh không thuộc cách diễn giải này.
Các cách diễn giải New Age về timeline shifting lại thường đặt một bản thể rộng hơn phía sau nhiều phiên bản và xem ý thức là phần có khả năng thay đổi điểm trải nghiệm.
Cùng một hình ảnh nhiều thực tại, nhưng chữ “tôi” bên trong mỗi cách nhìn đã khác.
Chiều không gian nói về cấu trúc và hình học của vũ trụ. Chiều tâm thức nói về cách ý thức được phân chia thành các trạng thái, mật độ hoặc dải nhận thức. Chiều thực tại nói về những lịch sử, thế giới và phiên bản có thể cùng tồn tại. Cùng dùng chữ “dimension”, ba phần đang đi theo ba hướng khác nhau: không gian, tâm thức và thực tại.
Một timeline khác có thể tồn tại ở đâu đó. Một phiên bản khác của bạn cũng có thể đã đi theo con đường mà bạn từng bỏ lại.
Còn phiên bản hiện tại có những ký ức đã xảy ra, những lựa chọn đã để lại hệ quả và những khả năng vẫn chưa thành hình.
Nếu thực tại thật sự phân nhánh, mỗi nhánh sẽ tiếp tục từ chính những gì đã xảy ra trong nó.
Và ngay lúc này, nhánh này là nơi ta đang có mặt.
_______